2016/09/06 Bình luận : Lượt xem: 1844
QUY ĐỊNH CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC SỐ 1240 TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM TOÁN VIÊN NHÀ NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN GIAN LẬN TRONG CUỘC KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH

QUY ĐỊNH CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC SỐ 1240 TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM TOÁN VIÊN NHÀ NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN GIAN LẬN TRONG CUỘC KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH

(Ban hành kèm theo Quyết định số 02/2016/QĐ-KTNN ngày 15 tháng 7 năm 2016 của Tổng Kiểm toán nhà nước)

 

QUY ĐỊNH CHUNG

Cơ sở xây dựng

  1. Chuẩn mực này được xây dựng và phát triển dựa trên cơ sở CMKTNN 100 - Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước, CMKTNN 200 - Các nguyên tắc cơ bản của kiểm toán tài chính và ISSAI 1240 của INTOSAI - Trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận trong cuộc kiểm toán tài chính theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế.

Mục đích và phạm vi áp dụng

  1. Chuẩn mực này quy định và hướng dẫn trách nhiệm của kiểm toán viên nhà nước đối với gian lận trong cuộc kiểm toán tài chính; quy định và hướng dẫn thêm cách áp dụng CMKTNN 1315 - Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị trong kiểm toán tài chính, áp dụng CMKTNN 1330 - Biện pháp xử lý rủi ro kiểm toán trong kiểm toán tài chính - trong đánh giá, xử lý rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận; hỗ trợ kiểm toán viên nhà nước trong việc xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận và thiết kế các thủ tục nhằm phát hiện sai sót đó. 
  2. Chuẩn mực này được áp dụng khi kiểm toán viên nhà nước thực hiện cuộc kiểm toán tài chính tại các cơ quan, tổ chức có quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công và các đối tượng khác theo quy định của Luật Kiểm toán nhà nước.
  3. Việc ngăn ngừa, phát hiện gian lận trước hết thuộc về lãnh đạo đơn vị được kiểm toán, kiểm toán viên nhà nước chỉ phải quan tâm đến gian lận dẫn đến sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính, thông tin tài chính được kiểm toán. Có hai loại sai sót do cố ý mà kiểm toán viên nhà nước cần quan tâm là sai sót xuất phát từ việc lập báo cáo tài chính, trình bày thông tin tài chính gian lận và sai sót do biển thủ tài sản. Mặc dù kiểm toán viên nhà nước có thể nghi ngờ hoặc trong một số ít trường hợp xác định được có gian lận xảy ra nhưng kiểm toán viên nhà nước không được đưa ra quyết định có tính chất pháp lý về việc có gian lận thực sự hay không.
  4. Theo quy định của pháp luật và các quy định có liên quan, kiểm toán viên nhà nước còn có thể phải xem xét rủi ro có gian lận ở phạm vi rộng hơn. Khi đó kiểm toán viên nhà nước cần cân nhắc các trách nhiệm có liên quan trong quá trình lập kế hoạch và tiến hành cuộc kiểm toán một cách phù hợp.
  5. Kiểm toán viên nhà nước phải tuân thủ các quy định và hướng dẫn của Chuẩn mực này trong quá trình thực hiện kiểm toán. Đơn vị được kiểm toán, các bên có liên quan và các bên sử dụng kết quả kiểm toán phải có những hiểu biết cần thiết về các quy định và hướng dẫn của Chuẩn mực này để phối hợp công việc với kiểm toán viên nhà nước và giải quyết các mối quan hệ trong quá trình kiểm toán.

Giải thích thuật ngữ

  1. Trong hệ thống chuẩn mực Kiểm toán nhà nước, các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:
  1. Gian lận: Là hành vi cố ý làm sai lệch thông tin trong báo cáo tài chính do một hay nhiều người trong đơn vị được kiểm toán hoặc bên thứ ba thực hiện bằng các hành vi gian dối để thu lợi bất chính hoặc bất hợp pháp.
  2. Các yếu tố dẫn đến rủi ro có gian lận: Là các sự kiện hoặc điều kiện phản ánh một động cơ hoặc áp lực phải thực hiện hành vi gian lận hoặc tạo cơ hội thực hiện hành vi gian lận.

Các thuật ngữ khác sử dụng trong Chuẩn mực này được định nghĩa như trong các chuẩn mực kiểm toán do Kiểm toán nhà nước ban hành.

NỘI DUNG CHUẨN MỰC

Đặc điểm của gian lận

  1. Gian lận trong lập báo cáo tài chính, trình bày thông tin tài chính hay biển thủ tài sản đều có liên quan đến động cơ hoặc áp lực phải thực hiện hành vi gian lận, cơ hội thực hiện hành vi gian lận và việc hợp lý hóa hành vi đó.
  2. Việc lập báo cáo tài chính, trình bày thông tin tài chính gian lận có liên quan đến các sai sót cố ý (cố ý bỏ sót, làm sai lệch số liệu hoặc thông tin thuyết minh của báo cáo tài chính) để lừa dối người sử dụng báo cáo tài chính. Hành vi gian lận trong lập báo cáo tài chính, trình bày thông tin tài chính có thể bao gồm:
  1. Xuyên tạc, làm giả (bao gồm cả việc giả mạo chữ ký), hoặc sửa đổi chứng từ, sổ kế toán có chứa đựng nội dung, số liệu được dùng làm căn cứ lập báo cáo tài chính;
  2. Làm sai lệch hoặc cố ý không trình bày trong báo cáo tài chính, thông tin tài chính các nghiệp vụ kinh tế đã phát sinh trong kỳ kế toán;
  3. Cố tình áp dụng sai các nguyên tắc kế toán liên quan đến số liệu, cách phân loại, cách trình bày hay thuyết minh;
  4. Lãnh đạo đơn vị được kiểm toán khống chế các kiểm soát trong khi đang hoạt động rất tốt bằng một trong các công việc sau: Lập bút toán khống; điều chỉnh các giả định và thay đổi các xét đoán dùng để ước tính số dư tài khoản một cách bất hợp lý; không ghi nhận hoặc ghi nhận không đúng kỳ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong kỳ báo cáo; dàn xếp các nghiệp vụ kinh tế phức tạp nhằm làm sai lệch tình hình hoạt động tài chính của đơn vị; sửa đổi chứng từ, điều khoản hợp đồng liên quan đến các giao dịch lớn và bất thường.

Động cơ và áp lực phải thực hiện hành vi gian lận là hai yếu tố có thể làm tăng mức độ của các hành vi nêu trên và dẫn đến việc lập báo cáo tài chính, trình bày thông tin tài chính gian lận.

  1. Hành vi biển thủ tài sản có thể do nhân viên hoặc lãnh đạo đơn vị được kiểm toán thực hiện, thường đi kèm với việc giả mạo chứng từ, tài liệu nhằm che giấu sự thật là các tài sản đó đã bị mất, bị thế chấp mà không được phép. Hành vi biển thủ tài sản có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau như: Biển thủ các khoản thu; lấy cắp tài sản vật chất hoặc tài sản trí tuệ; làm cho đơn vị phải thanh toán tiền cho hàng hóa, dịch vụ mà đơn vị không được hưởng; sử dụng tài sản của đơn vị nhưng không phục vụ cho hoạt động của đơn vị.

Thái độ hoài nghi nghề nghiệp

  1. Kiểm toán viên nhà nước phải duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp trong suốt cuộc kiểm toán, phải nhận thức được khả năng có thể tồn tại sai sót trọng yếu do gian lận.
  2. Trong quá trình thực hiện kiểm toán:
  1. Nếu có các dấu hiệu làm cho kiểm toán viên nhà nước tin rằng một tài liệu có thể là không xác thực hoặc đã bị sửa đổi mà không được thông báo thì kiểm toán viên nhà nước phải tiến hành kiểm tra thêm bằng các thủ tục như: Xác nhận trực tiếp với bên thứ ba; sử dụng chuyên gia để đánh giá tính xác thực của tài liệu đó; kiểm tra, xác minh tài liệu đó từ các nguồn thông tin khác;
  2. Nếu các giải trình của đơn vị được kiểm toán là không nhất quán, thì kiểm toán viên nhà nước phải tiến hành kiểm tra về các điểm không nhất quán đó.

Thảo luận trong Tổ kiểm toán, Đoàn kiểm toán

  1. CMKTNN 1315 - Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị trong kiểm toán tài chính quy định lãnh đạo và các thành viên trong Đoàn kiểm toán phải thảo luận về khả năng báo cáo tài chính, thông tin tài chính của đơn vị dễ xảy ra sai sót trọng yếu và sự phù hợp trong việc áp dụng các quy định lập, trình bày báo cáo tài chính với điều kiện và hoàn cảnh của đơn vị. Lãnh đạo Đoàn kiểm toán có thể chỉ thảo luận với một số thành viên và thông báo lại bằng văn bản cho các thành viên khác trong Đoàn kiểm toán. Cuộc thảo luận này phải đặc biệt tập trung vào các nội dung, cách thức mà báo cáo tài chính, thông tin tài chính của đơn vị được kiểm toán dễ xảy ra sai sót trọng yếu do gian lận, kể cả việc gian lận đó xảy ra như thế nào.
  2. Nội dung thảo luận trong Tổ kiểm toán hoặc Đoàn kiểm toán có thể bao gồm:
  1. Trao đổi ý kiến giữa các thành viên về các trường hợp mà họ cho rằng báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán có khả năng có sai sót trọng yếu do gian lận; cách thức lãnh đạo đơn vị được kiểm toán có thể thực hiện và che giấu hành vi lập báo cáo tài chính gian lận và cách thức mà tài sản của đơn vị có thể bị biển thủ;
  2. Xem xét các dấu hiệu có sự điều chỉnh kết quả hoạt động và các thủ đoạn mà đơn vị được kiểm toán có thể thực hiện nhằm điều chỉnh kết quả hoạt động dẫn đến việc lập báo cáo tài chính, trình bày thông tin tài chính gian lận;
  3. Xem xét các yếu tố bên ngoài và bên trong có ảnh hưởng đến đơn vị được kiểm toán có thể tạo ra động cơ hoặc áp lực buộc lãnh đạo đơn vị hoặc những đối tượng khác phải thực hiện hành vi gian lận, tạo cơ hội thực hiện hành vi gian lận, và cho thấy có văn hóa hoặc môi trường tạo điều kiện cho lãnh đạo đơn vị hoặc các đối tượng khác có thể biện minh cho việc thực hiện hành vi gian lận;
  4. Xem xét sự giám sát của lãnh đạo đơn vị được kiểm toán đối với các nhân viên thường tiếp cận với tiền hoặc tài sản dễ bị biển thủ;
  5. Xem xét các thay đổi bất thường hoặc chưa giải thích được trong hành vi của lãnh đạo đơn vị được kiểm toán hoặc các nhân viên mà Đoàn kiểm toán lưu ý;
  6. Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì thái độ đúng đắn trong suốt cuộc kiểm toán đối với khả năng tồn tại sai sót trọng yếu do gian lận;
  7. Xem xét các tình huống có thể có khả năng có gian lận;
  8. Xem xét bằng cách nào để bổ sung yếu tố mà đơn vị được kiểm toán không thể dự đoán trước được vào nội dung, lịch trình, phạm vi của các thủ tục kiểm toán sẽ được thực hiện;
  9. Xem xét và lựa chọn các thủ tục kiểm toán hiệu quả để xử lý khả năng tồn tại sai sót trọng yếu do gian lận trong các báo cáo tài chính, thông tin tài chính của đơn vị được kiểm toán.
  10. Xem xét các cáo buộc gian lận mà Đoàn kiểm toán nhận được;
  11. Xem xét rủi ro lãnh đạo đơn vị được kiểm toán khống chế kiểm soát.

Thủ tục đánh giá rủi ro và các hoạt động liên quan

  1. Kiểm toán viên nhà nước phải thực hiện thủ tục đánh giá rủi ro và các hoạt động có liên quan theo quy định tại CMKTNN 1315 - Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị trong kiểm toán tài chính và các thủ tục được quy định tại chuẩn mực này để thu thập thông tin nhằm xác định rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận.

Phỏng vấn

  1. Kiểm toán viên nhà nước phải phỏng vấn lãnh đạo đơn vị được kiểm toán nhằm thu thập thông tin sau:
  1. Đánh giá của lãnh đạo đơn vị về rủi ro báo cáo tài chính, thông tin tài chính có thể có sai sót trọng yếu do gian lận (bao gồm nội dung, phạm vi và tần suất của các đánh giá) và các kiểm soát hiện có để ngăn ngừa, phát hiện rủi ro có gian lận;
  2. Quy trình xác định và xử lý rủi ro có gian lận trong đơn vị, bao gồm bất kỳ rủi ro có gian lận cụ thể nào mà lãnh đạo đơn vị đã xác định hoặc đã được thông báo hoặc các nhóm giao dịch, số dư tài khoản, thuyết minh mà trong đó có thể tồn tại rủi ro có gian lận;
  3. Việc trao đổi của lãnh đạo đơn vị (nếu có) với bộ phận kiểm soát nội bộ về quy trình xác định và xử lý rủi ro có gian lận trong đơn vị và với nhân viên về quan điểm đối với các hoạt động của đơn vị và hành vi đạo đức;
  4. Gian lận, nghi ngờ có gian lận hoặc cáo buộc có gian lận ảnh hưởng đến đơn vị.
  1. Nếu đơn vị được kiểm toán có bộ phận kiểm toán nội bộ thì kiểm toán viên nhà nước phải phỏng vấn bộ phận kiểm toán nội bộ để tìm hiểu quan điểm của kiểm toán nội bộ về rủi ro có gian lận, các thủ tục mà kiểm toán viên nội bộ đã thực hiện nhằm phát hiện gian lận; các biện pháp xử lý của lãnh đạo đơn vị đối với các phát hiện gian lận của kiểm toán nội bộ; thu thập thông tin về gian lận, nghi ngờ có gian lận hoặc cáo buộc có gian lận ảnh hưởng đến đơn vị.
  2. Kiểm toán viên nhà nước phải phỏng vấn bộ phận thanh tra, kiểm tra, kiểm soát nội bộ để tìm hiểu về cách thức mà họ thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát; việc xác định và xử lý rủi ro có gian lận của lãnh đạo đơn vị; thông tin về gian lận, nghi ngờ có gian lận hoặc cáo buộc có gian lận ảnh hưởng đến đơn vị mà họ biết.
  3. Việc phỏng vấn của kiểm toán viên nhà nước cần thực hiện riêng rẽ đối với từng đối tượng nhằm đảm bảo tính khách quan của các câu trả lời phỏng vấn.

Thực hiện thủ tục phân tích

  1. Kiểm toán viên nhà nước thực hiện thủ tục phân tích để đánh giá các vấn đề bất thường hoặc ngoài dự kiến (đã được xác định trong quá trình thực hiện các thủ tục phân tích) có dấu hiệu của rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận.
  2. Kiểm toán viên nhà nước phải xem xét các thông tin khác (thông tin từ các cuộc kiểm toán trước, thảo luận trong Tổ, Đoàn kiểm toán,...) có dấu hiệu về rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận khi thực hiện thủ tục phân tích.
  3. Kiểm toán viên nhà nước phải đánh giá các thông tin thu thập được từ các thủ tục đánh giá rủi ro khác và các hoạt động liên quan để xác định sự tồn tại của một hoặc nhiều yếu tố dẫn đến rủi ro có gian lận. Mặc dù các yếu tố dẫn đến rủi ro có gian lận có thể không cho thấy có gian lận, nhưng các yếu tố này thường xuất hiện khi các hành vi gian lận đã xảy ra và do đó có thể là dấu hiệu của rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận.
  4. Các yếu tố dẫn đến rủi ro có gian lận khó có thể phân loại theo mức độ quan trọng, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau (quy mô, độ phức tạp, mô hình tổ chức quản lý của đơn vị, từng bộ phận trong đơn vị,…) do đó kiểm toán viên nhà nước phải thực hiện xét đoán chuyên môn khi xác định yếu tố dẫn đến rủi ro có gian lận và yếu tố đó có được xem xét khi đánh giá rủi ro báo cáo tài chính có sai sót trọng yếu do gian lận.

Ví dụ về các yếu tố dẫn đến rủi ro có gian lận được trình bày tại Phụ lục 01 ban hành kèm theo Chuẩn mực này.

Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận

  1. Kiểm toán viên nhà nước phải xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận ở cấp độ báo cáo tài chính và ở cấp độ cơ sở dẫn liệu của các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh theo quy định tại CMKTNN 1315 - Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị trong kiểm toán tài chính.
  2. Kiểm toán viên nhà nước phải dựa trên giả định rằng có rủi ro do gian lận trong một cơ sở dẫn liệu cụ thể (tùy hoàn cảnh cụ thể của cuộc kiểm toán, ví dụ doanh thu được trình bày tại Phụ lục 04) để đánh giá xem cơ sở dẫn liệu, nghiệp vụ kinh tế nào liên quan đến cơ sở dẫn liệu đó (doanh thu) mà có thể dẫn đến các rủi ro. Kiểm toán viên nhà nước phải đưa ra kết luận rằng giả định có rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận liên quan đến cơ sở dẫn liệu là phù hợp hay không phù hợp với hoàn cảnh thực tế của cuộc kiểm toán và phải lưu trong hồ sơ kiểm toán những tài liệu có liên quan.
  3. Kiểm toán viên nhà nước phải coi các rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận đã được đánh giá là rủi ro đáng kể và do đó phải tìm hiểu các kiểm soát có liên quan của đơn vị kể cả các hoạt động kiểm soát liên quan đến các rủi ro đó. Kiểm toán viên nhà nước phải tìm hiểu về các kiểm soát mà đơn vị được kiểm toán đã thiết kế, thực hiện, duy trì để ngăn chặn, phát hiện gian lận.

Biện pháp xử lý đối với rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận đã được đánh giá

Biện pháp xử lý tổng thể

  1. Kiểm toán viên nhà nước phải xác định biện pháp xử lý tổng thể đối với rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận đã được đánh giá ở cấp độ báo cáo tài chính theo quy định tại CMKTNN 1330 - Biện pháp xử lý rủi ro kiểm toán trong kiểm toán tài chính đồng thời duy trì, nâng cao thái độ hoài nghi nghề nghiệp trong suốt cuộc kiểm toán.
  2. Biện pháp xử lý tổng thể đối với các sai sót trọng yếu do gian lận đã được đánh giá ở cấp độ báo cáo tài chính bao gồm:
  1. Bố trí kiểm toán viên nhà nước có kiến thức, kỹ năng, năng lực phù hợp hoặc sử dụng chuyên gia;
  2. Giám sát việc thực hiện nhiệm vụ kiểm toán;
  3. Đánh giá việc lựa chọn và áp dụng chính sách kế toán của đơn vị được kiểm toán (đặc biệt là các chính sách có liên quan đến các ước tính, các xét đoán chủ quan và các giao dịch phức tạp) có dấu hiệu gian lận không;
  4. Thực hiện thay đổi hoặc bổ sung một số yếu tố không thể dự đoán trước được khi lựa chọn nội dung, lịch trình, phạm vi của thủ tục kiểm toán. Các cách thay đổi, bổ sung bao gồm:
    • Thực hiện các thử nghiệm cơ bản đối với các số dư tài khoản và các cơ sở dẫn liệu được lựa chọn mà nếu xét trên mức độ trọng yếu hoặc rủi ro thì có thể kiểm toán viên nhà nước sẽ không kiểm tra các số dư tài khoản và cơ sở dẫn liệu này;
    • Điều chỉnh thời gian thực hiện các thủ tục kiểm toán khác so với dự kiến (kế hoạch);
    • Sử dụng các phương pháp chọn mẫu khác nhau;
    • Thực hiện các thủ tục kiểm toán tại các địa điểm khác nhau hoặc tại các địa điểm không được thông báo trước.

Thủ tục kiểm toán đối với rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận ở cấp độ cơ sở dẫn liệu đã được đánh giá

  1. Kiểm toán viên nhà nước phải thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán tiếp theo có nội dung, lịch trình và phạm vi tương ứng với kết quả đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận ở cấp độ cơ sở dẫn liệu theo quy định tại CMKTNN 1330 - Biện pháp xử lý rủi ro kiểm toán trong kiểm toán tài chính.
  2. Đối với rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận ở cấp độ cơ sở dẫn liệu, kiểm toán viên nhà nước có thể phải thay đổi nội dung, lịch trình, phạm vi của các thủ tục kiểm toán như:
  1. Kiểm toán viên nhà nước có thể cần thay đổi nội dung thủ tục kiểm toán nhằm thu thập các bằng chứng phù hợp và đáng tin cậy hơn hoặc để thu thập thêm các thông tin chứng thực bổ sung. Việc này có thể ảnh hưởng đến loại thủ tục kiểm toán và sự kết hợp giữa các loại thủ tục này;
  2. Điều chỉnh lịch trình thực hiện các thử nghiệm cơ bản cho phù hợp;
  3. Điều chỉnh phạm vi của các thủ tục được áp dụng tùy thuộc vào đánh giá của kiểm toán viên nhà nước đối với rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận như tăng cỡ mẫu, thực hiện các thủ tục phân tích chi tiết, sử dụng sự hỗ trợ của các phần mềm máy tính,...

Phụ lục 02 cung cấp ví dụ về các thủ tục để xử lý các rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận đã được đánh giá.

Thủ tục kiểm toán đối với rủi ro đã được đánh giá liên quan đến việc lãnh đạo đơn vị được kiểm toán khống chế kiểm soát

  1. Rủi ro có sai sót trọng yếu do lãnh đạo đơn vị được kiểm toán khống chế kiểm soát mà kiểm toán viên nhà nước nhận thấy các hoạt động kiểm soát đang hoạt động tốt có thể xảy ra ở mọi đơn vị, đây là rủi ro đáng kể.
  2. Kiểm toán viên nhà nước phải thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán để kiểm tra tính thích hợp của các bút toán ghi sổ và các điều chỉnh trong khi lập báo cáo tài chính, trình bày thông tin tài chính như:
  1. Phỏng vấn các cá nhân tham gia vào quá trình lập báo cáo tài chính, trình bày thông tin tài chính về các hoạt động không thích hợp hoặc bất thường có liên quan;
  2. Lựa chọn kiểm tra các bút toán ghi sổ và điều chỉnh được thực hiện vào cuối kỳ kế toán;
  3. Cân nhắc sự cần thiết phải kiểm tra các bút toán ghi sổ và điều chỉnh trong suốt kỳ kế toán.
  1. Khi lựa chọn các bút toán ghi sổ và điều chỉnh để kiểm tra, kiểm toán viên nhà nước phải quan tâm đến các vấn đề sau:
  1. Đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận;
  2. Các kiểm soát được thực hiện đối với các bút toán ghi sổ và điều chỉnh;
  3. Quy trình lập báo cáo tài chính, trình bày thông tin tài chính của đơn vị và nội dung các bằng chứng có thể thu thập được;
  4. Đặc điểm của bút toán ghi sổ và điều chỉnh gian lận;
  5. Nội dung, tính phức tạp của các tài khoản;
  6. Các bút toán ghi sổ hoặc điều chỉnh được xử lý khác với cách giải quyết thông thường.
  1. Kiểm toán viên nhà nước cần sử dụng xét đoán chuyên môn khi xác định nội dung, lịch trình, phạm vi kiểm tra các bút toán ghi sổ và các điều chỉnh.
  2. Kiểm toán viên nhà nước phải thiết kế, thực hiện các thủ tục kiểm toán để soát xét các ước tính kế toán nhằm xác định sự thiên lệch, đồng thời đánh giá các tình huống phát sinh sự thiên lệch (nếu có) có biểu hiện rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận. Trong khi soát xét, kiểm toán viên nhà nước phải:
  1. Đánh giá các xét đoán, quyết định của đơn vị được kiểm toán trong việc thực hiện các ước tính kế toán (kể cả khi từng xét đoán, quyết định là hợp lý) có dấu hiệu về sự thiên lệch có thể dẫn tới rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận. Nếu có, kiểm toán viên nhà nước phải đánh giá lại toàn bộ các ước tính kế toán đó;
  2. Thực hiện soát xét hồi tố đối với các đánh giá và giả định của đơn vị được kiểm toán liên quan đến các ước tính kế toán quan trọng được phản ánh trong báo cáo tài chính năm trước.

Kiểm toán viên nhà nước thực hiện soát xét các ước tính kế toán theo quy định tại CMKTNN 1540 - Kiểm toán các ước tính kế toán trong kiểm toán tài chính.

36.

Thu thập giải trình bằng văn bản của lãnh đạo đơn vị được kiểm toán

  1. Kiểm toán viên nhà nước phải thu thập giải trình bằng văn bản của lãnh đạo đơn vị được kiểm toán (trong phạm vi phù hợp) về việc:
  1. Thừa nhận trách nhiệm thiết kế, thực hiện, duy trì kiểm soát nội bộ nhằm ngăn ngừa và phát hiện gian lận;
  2. Đã cung cấp cho kiểm toán viên nhà nước đánh giá (sự nhận biết) của họ về rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận trong báo cáo tài chính, thông tin tài chính;
  3. Đã cung cấp cho kiểm toán viên nhà nước các thông tin mà họ biết về gian lận, nghi ngờ có gian lận, các cáo buộc gian lận có ảnh hưởng đến báo cáo tài chính, thông tin tài chính được kiểm toán.

Kiểm toán viên nhà nước thực hiện thu thập giải trình bằng văn bản theo quy định tại CMKTNN 1580 - Giải trình bằng văn bản trong kiểm toán tài chính.

Đánh giá bằng chứng kiểm toán

  1. Kiểm toán viên nhà nước phải đánh giá các thủ tục phân tích được thực hiện ở giai đoạn cuối cuộc kiểm toán khi đưa ra ý kiến kiểm toán xem có dấu hiệu cho thấy có rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận mà trước đó chưa được phát hiện hay không. Kiểm toán viên nhà nước cần sử dụng xét đoán chuyên môn để xác định xu hướng và các nghiệp vụ kinh tế có thể là dấu hiệu của rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận, đặc biệt là các nghiệp vụ bất thường có liên quan đến xác định kết quả tài chính được ghi nhận tại thời điểm cuối kỳ kế toán.

Xem xét các sai sót đã được xác định

  1. Trường hợp phát hiện ra sai sót, kiểm toán viên nhà nước phải đánh giá sai sót đó có phải là biểu hiện của gian lận không. Nếu có biểu hiện của gian lận thì kiểm toán viên nhà nước phải đánh giá tác động của sai sót đến các khía cạnh khác có liên quan đến cuộc kiểm toán (đặc biệt là độ tin cậy của các giải trình của lãnh đạo đơn vị được kiểm toán) và phải nhận thức được rằng gian lận thường không phát sinh riêng lẻ.
  2. Trường hợp phát hiện ra sai sót (trọng yếu, không trọng yếu) mà kiểm toán viên nhà nước có lý do để tin rằng sai sót đó xuất phát từ gian lận hoặc có thể xuất phát từ gian lận và có sự tham gia của lãnh đạo đơn vị được kiểm toán thì kiểm toán viên nhà nước phải xem xét lại đánh giá của mình về rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận và ảnh hưởng của sai sót đó tới nội dung, lịch trình, phạm vi của các thủ tục kiểm toán để xử lý rủi ro đã xác định. Khi xem xét lại độ tin cậy của các bằng chứng đã thu thập được trước đó, kiểm toán viên nhà nước cũng phải cân nhắc xem các tình huống hoặc điều kiện có biểu hiện hành vi thông đồng liên quan đến các nhân viên, lãnh đạo đơn vị hoặc các bên thứ ba hay không.
  3. Khi kiểm toán viên nhà nước khẳng định rằng báo cáo tài chính, thông tin tài chính có chứa đựng sai sót trọng yếu, hoặc không thể đưa ra kết luận được rằng báo cáo tài chính, thông tin tài chính có chứa đựng sai sót trọng yếu do gian lận hay không thì kiểm toán viên nhà nước phải đánh giá ảnh hưởng của sai sót trọng yếu do gian lận và ảnh hưởng của sai sót tới việc hình thành ý kiến kiểm toán theo quy định tại CMKTNN 1450 - Đánh giá các sai sót phát hiện trong quá trình kiểm toán tài chính, CMKTNN 1700 - Hình thành ý kiến kiểm toán và báo cáo kiểm toán trong kiểm toán tài chính.

Trao đổi thông tin

  1. Nếu kiểm toán viên nhà nước xác định được hành vi gian lận hoặc thu thập được thông tin cho thấy có thể có hành vi gian lận thì kiểm toán viên nhà nước phải xác định những người có trách nhiệm hoặc có liên quan theo quy định của pháp luật để trao đổi thông tin một cách phù hợp.

Trao đổi với đơn vị được kiểm toán

  1. Khi đã thu thập được bằng chứng kiểm toán về sự tồn tại hoặc có thể tồn tại gian lận, kiểm toán viên nhà nước kịp thời trao đổi thông tin với cấp quản lý thích hợp của đơn vị được kiểm toán. 
  2. Kiểm toán viên nhà nước cần trao đổi thông tin với lãnh đạo đơn vị được kiểm toán về các vấn đề có liên quan đến hành vi gian lận mà kiểm toán viên nhà nước đánh giá là có liên quan đến trách nhiệm của lãnh đạo đơn vị được kiểm toán. Các vấn đề liên quan có thể bao gồm:
  1. Lo ngại của kiểm toán viên nhà nước về nội dung, phạm vi, tần suất lãnh đạo đơn vị được kiểm toán thực hiện đối với các kiểm soát nhằm ngăn chặn, phát hiện gian lận và rủi ro dẫn đến báo cáo tài chính, thông tin tài chính có sai sót;
  2. Đánh giá của kiểm toán viên nhà nước về môi trường kiểm soát của đơn vị được kiểm toán;
  3. Lãnh đạo đơn vị được kiểm toán không khắc phục được những khiếm khuyết nghiêm trọng đã phát hiện trong kiểm soát nội bộ hoặc không có xử lý thích hợp đối với những gian lận đã phát hiện;
  4. Việc lựa chọn, áp dụng chính sách kế toán nhằm mục đích điều chỉnh kết quả hoạt động của đơn vị;
  5. Các lo ngại của kiểm toán viên nhà nước về tính thích hợp, đầy đủ của việc phê duyệt các nghiệp vụ kinh tế bất thường.

Thông báo với cơ quan quản lý và cơ quan pháp luật có liên quan

  1. Nếu xác định được hành vi gian lận hoặc nghi ngờ có hành vi gian lận thì kiểm toán viên nhà nước phải báo cáo với cấp có thẩm quyền của Kiểm toán nhà nước để thông tin tới cơ quan quản lý và cơ quan pháp luật có liên quan theo các quy định của pháp luật hiện hành.

Tài liệu, hồ sơ kiểm toán

  1. Kiểm toán viên nhà nước lập và lưu trữ trong tài liệu, hồ sơ kiểm toán theo quy định tại CMKTNN 1230 - Tài liệu, hồ sơ kiểm toán của cuộc kiểm toán tài chính, đồng thời lưu ý lập và lưu trong tài liệu, hồ sơ kiểm toán những vấn đề sau:
  1. Thông tin thu thập được về đơn vị được kiểm toán và kết quả đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận, gồm: Các quyết định quan trọng trong quá trình thảo luận của Tổ, Đoàn kiểm toán về khả năng báo cáo tài chính, thông tin tài chính có sai sót trọng yếu do gian lận; các rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận đã được xác định và đánh giá ở cấp độ báo cáo tài chính và cấp độ cơ sở dẫn liệu;
  2. Biện pháp xử lý của kiểm toán viên nhà nước đối với các rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận đã được đánh giá, gồm: Biện pháp xử lý tổng thể đối với rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận đã đánh giá ở cấp độ báo cáo tài chính; nội dung, lịch trình, phạm vi các thủ tục kiểm toán, và mối liên hệ giữa các thủ tục đó với các rủi ro có sai sót trọng yếu đã đánh giá do gian lận ở cấp độ cơ sở dẫn liệu; kết quả các thủ tục kiểm toán, kể cả các thủ tục được thiết lập nhằm xử lý rủi ro lãnh đạo đơn vị được kiểm toán khống chế kiểm soát;
  3. Việc trao đổi thông tin của kiểm toán viên nhà nước với cấp có thẩm quyền và các bên có liên quan.

 

TỔNG KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

(Đã ký)

Hồ Đức Phớc

 

Phụ lục 01: Ví dụ về các yếu tố dẫn đến rủi ro có gian lận

 

1. Các yếu tố dẫn đến rủi ro có gian lận liên quan đến sai sót trong lập báo cáo tài chính gian lận

1.1. Các yếu tố liên quan đến động cơ hoặc áp lực

- Sự ổn định tài chính, khả năng sinh lời bị ảnh hưởng bởi tình hình kinh tế đất nước, ngành nghề kinh doanh, lĩnh vực hoạt động.

- Tài chính không ổn định hoặc các áp lực do điều kiện kinh tế, chính trị, ngân sách hoặc điều kiện hoạt động của đơn vị như hệ thống kiểm soát ngân sách kém, các chương trình mới, các chính sách mới, nguồn tài chính mới, các chương trình không được phân bổ đủ kinh phí,…

- Áp lực đối với lãnh đạo đơn vị được kiểm toán nhằm đạt được chỉ tiêu kế hoạch, yêu cầu hoặc kỳ vọng của bên thứ ba (cấp trên, đối tác,…) trong điều kiện nguồn lực NSNN hạn hẹp, chi tiêu theo năm ngân sách, chi phí thấp, thuế phải nộp ít.

- Tình hình của cá nhân (tài chính, uy tín, cơ hội thăng tiến, khen thưởng,…) bị ảnh hưởng bởi kết quả hoạt động của đơn vị.

1.2. Các yếu tố liên quan đến cơ hội

- Đặc điểm đơn vị, ngành, lĩnh vực hoạt động có thể tạo ra cơ hội gian lận.

- Việc giám sát của lãnh đạo đơn vị được kiểm toán không hiệu quả.

- Cơ cấu tổ chức đơn vị được kiểm toán phức tạp hoặc không ổn định.

- Kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán kém hiệu quả.

1.3. Các yếu tố liên quan đến thái độ hoặc sự biện minh cho hành động gian lận

- Lãnh đạo đơn vị ít hoặc không quan tâm đến yêu cầu phải thực hiện quy định, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán.

- Lãnh đạo đơn vị được kiểm toán không có chuyên môn nghiệp vụ về tài chính nhưng can thiệp quá sâu hoặc áp đặt quá mức trong lựa chọn chính sách kế toán, xác định các ước tính kế toán quan trọng.

- Đơn vị được kiểm toán đã có lịch sử gian lận, bị khiếu kiện hoặc bị cáo buộc gian lận, vi phạm pháp luật.

- Lãnh đạo đơn vị được kiểm toán quan tâm quá mức đến việc duy trì hoặc xu hướng tăng trưởng lợi nhuận, hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch.

- Lãnh đạo đơn vị được kiểm toán không thể kịp thời sửa chữa các sai sót nghiêm trọng đã được phát hiện.

- Mâu thuẫn trong nội bộ lãnh đạo đơn vị được kiểm toán.

- Mức lương thấp trong khu vực hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

2. Các yếu tố dẫn đến rủi ro có gian lận do biển thủ tài sản

2.1. Các yếu tố liên quan đến động cơ hoặc áp lực

- Bị áp lực từ nghĩa vụ tài chính cá nhân (nợ, nhu cầu cao trong khi thu nhập thấp,…) khi họ có cơ hội tiếp cận với tiền, tài sản sẽ khiến họ biển thủ tài sản này.

- Khi xuất hiện mối quan hệ chống đối (bị đuổi việc, không thỏa mãn lương, thưởng, cơ hội thăng tiến…) giữa đơn vị được kiểm toán và nhân viên được quyền tiếp cận với tiền, tài sản có thể khiến cá nhân có động cơ biển thủ tài sản.

- Hoạt động mua sắm tài sản trong khu vực công (hợp đồng có giá trị lớn với các bên có mối quan hệ).

2.2. Các yếu tố liên quan đến cơ hội

- Một số hoàn cảnh làm tăng cơ hội biển thủ tài sản như: Nắm giữ hoặc xử lý một số tiền lớn; tài sản nhỏ nhưng giá trị lớn, dễ chuyển thành tiền mặt;…

- Kiểm soát nội bộ kém hiệu quả đối với tài sản.

2.3. Các yếu tố liên quan đến thái độ hoặc sự biện minh cho hành động gian lận

- Thái độ coi nhẹ việc kiểm soát nội bộ đối với tài sản.

- Cách thức đối xử của lãnh đạo đơn vị đối với nhân viên.

- Thay đổi hành vi, lối sống cá nhân của nhân viên.

 

 

 

Phụ lục 02: Ví dụ về những thủ tục kiểm toán đối với rủi ro có sai sót trọng yếu đã được đánh giá

 

STT

Rủi ro đã được đánh giá

Ví dụ về thủ tục kiểm toán

1

Cấp độ cơ sở dẫn liệu

 

Tùy thuộc vào yếu tố, điều kiện dẫn đến rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận đã đánh giá; tùy thuộc vào nhóm giao dịch, số dư tài khoản, thuyết minh và các cơ sở dẫn liệu có thể bị ảnh hưởng mà kiểm toán viên nhà nước lựa chọn thủ tục kiểm toán thích hợp.

Kiểm tra hiện trường, kiểm kê quỹ tiền mặt, kiểm kê hàng tồn kho

Điều chỉnh phương pháp kiểm toán

Rà soát chi tiết đối với những bút toán điều chỉnh cuối kỳ hoặc có vẻ bất thường về bản chất, giá trị

Thực hiện thủ tục phân tích cơ bản bằng cách sử dụng các số liệu được phân loại (so sánh doanh thu - giá vốn của 1 loại sản phẩm, so sánh dự toán – quyết toán của cùng nguồn kinh phí của các đơn vị theo định mức chung,…)

Thực hiện các thủ tục phân tích các khoản mục được lựa chọn trên bảng cân đối kế toán của báo cáo tài chính năm trước năm được kiểm toán để đánh giá, so sánh các vấn đề có liên quan đến rủi ro đã được đánh giá

Thực hiện thủ tục kiểm toán đối với các tài khoản, đối chiếu do đơn vị cung cấp

Thực hiện các thủ tục kiểm toán với sự hỗ trợ của phần mềm máy tính

Phỏng vấn các nhân viên tham gia vào những lĩnh vực đã xác định được rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận

Tìm kiếm bằng chứng kiểm toán bổ sung từ các nguồn bên ngoài đơn vị được kiểm toán

2

Gian lận trong việc lập, trình bày báo cáo tài chính

 

Ghi nhận doanh thu

Thực hiện thủ tục phân tích cơ bản bằng cách sử dụng số liệu được phân loại;

Xác nhận với bên thứ ba (khách hàng) của đơn vị về các điều khoản hợp đồng;

Phỏng vấn nhân viên bán hàng, tiếp thị, thanh toán,..

 

Các ước tính kế toán của đơn vị

Sử dụng chuyên gia thực hiện một số ước tính độc lập tương tự để so sánh;

Phỏng vấn các nhân viên không thực hiện nhiệm vụ ước tính.

3

Sai sót do biển thủ tài sản

 

Thông thường các biện pháp xử lý rủi ro có sai sót trọng yếu do biển thủ tài sản đã được đánh giá sẽ tập trung vào các nhóm giao dịch, số dư tài khoản nhất định. Tùy tình huống, kiểm toán viên nhà nước sẽ lựa chọn biện pháp xử lý thích hợp

Kiểm kê tiền mặt, tài sản

Xác nhận với bên thứ ba về các điều khoản hợp đồng, công nợ

Kiểm tra các căn cứ lập chứng từ ghi giảm tiền, tài sản

Rà soát hồ sơ nhân sự để tìm những hồ sơ có rất ít hoặc không có bằng chứng về hoạt động

Rà soát tính hợp lý của những khoản chi tiêu lớn, bất thường

Rà soát mức độ và tính thích hợp của các khoản chi tiêu liên quan đến lãnh đạo đơn vị được kiểm toán

 

 

Phụ lục 03: Ví dụ về những tình huống cho thấy khả năng có gian lận

 

STT

Tình huống

1

Sự khác biệt giữa thực tế với sổ kế toán

Các nghiệp vụ không được ghi nhận đầy đủ và kịp thời, hoặc bị ghi nhận sai về giá trị, sai kỳ kế toán, phân loại sai hoặc không phù hợp với chính sách của đơn vị

Số dư tài khoản hoặc giao dịch không có chứng từ chứng minh hoặc không được phê duyệt

Các bút toán điều chỉnh vào thời điểm cuối kỳ kế toán có ảnh hưởng trọng yếu đến kết quả tài chính

Bằng chứng cho thấy có nhân viên không có trách nhiệm đã truy cập vào hệ thống kế toán hoặc hồ sơ lưu của đơn vị


Cùng bình luận !


 

Giới thiệu chung Các khoá học kế toán Các gói dịch vụ kế toán Thông tin liên hệ
CÔNG TY kế toán hà nội thành lập năm 2005  chuyên dạy học kế toán thực tế với 10 năm kinh nghiệm và 30 cơ sở trên toàn quốc. Liên tục dành được giải thưởng thương hiệu uy tín do người tiêu dùng bình chọn.

 Khóa học kế toán tổng hợp
 Khoá học kế toán thực hành
 Khoá học kế toán thuế
 Khoá học kế toán trên excel

 Khoá học kế toán máy misa

 

htkk moi nhat

Làm báo cáo tài chính
 Kế toán thuế trọn gói
 Làm kế toán nội bộ
 Kế toán thuế

Trụ sở chính: Lê Trọng Tấn - Thanh Xuân - Hà Nội
 Hotline : 0982 686 028
 Email : Vanhai688@gmail.com

Website : http://dichvuketoanhn.net/